48.000 người Mỹ tử vong do bị nhiễm khuẩn từ bệnh viện
48.000 người Mỹ tử vong do bị nhiễm khuẩn từ bệnh viện
Hằng năm, có 48.000 người Mỹ tử vong do bị nhiễm khuẩn từ bệnh viện, con số được đưa ra theo một nghiên cứu được công bố mới đây.
"Đó là một con số khiến chúng ta sửng sốt, nhưng đáng nhẽ điều đáng tiếc này đã không xảy ra", Tiến sĩ Laxminarayan, thành viên tổ chức Resources for the Future và là người đứng đầu cuộc nghiên cứu, nói. "Ví dụ, một bệnh nhân đến bệnh viện vì một bệnh khác thì họ lại chết vì viêm phổi. Rõ ràng đây là một sai lầm". Trên thực tế, số ca tử vong ở Mỹ do nhiễm khuẩn từ bệnh viện cao gấp 3 lần so với HIV. Tuy vậy, vấn đề nhiễm khuẩn trong bệnh viện mới chỉ được bắt đầu chú ý trong thời gian gần đây.
Tiến sĩ Laxminarayan và các cộng sự đã phân tích những dữ liệu về báo cáo sức khỏe của hơn 69 triệu người ở 40 bang trên toàn nước Mỹ, trong thời gian từ năm 1998 đến năm 2006. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học chỉ tập trung vào những ca nhiễm khuẩn từ bệnh viện.
Phần lớn những ca nhiễm khuẩn từ bệnh viện thông qua ống thông nước tiểu và các quạt thông gió. Một số mầm bệnh gây nhiễm trùng đã được phát hiện từ cách đây nhiều năm; một số khác mới được phát hiện, như siêu vi khuẩn MRSA - có tên đầy đủ là Methicillin-resistant Staphylococcus aureus (tụ cầu vàng kháng Methicillin). Loại vi khuẩn này gây ra nhiễm trùng "staph" không đáp ứng điều trị với kháng sinh thông thường.
Tiến sĩ Peter J. Pronovost, một chuyên gia hàng đầu thế giới về nhiễm khuẩn từ bệnh viện tại Trường Đại học Johns Hopkins, cho rằng nghiên cứu của Tiến sĩ Laxminarayan đã giúp làm sáng tỏ hơn về những hiểm họa của vấn đề nhiễm khuẩn từ bệnh viện trong nhiều năm qua.
Trong một nghiên cứu được công bố đầu tháng này, Tiến sĩ Pronovost và các cộng sự đã chỉ ra rằng nếu các bác sĩ và các y tá trong bệnh viện thực hiện đúng quy trình vệ sinh y tế, thì tỷ lệ nhiễm khuẩn từ bệnh viện có thể giảm xuống gần như bằng 0. Vì thế, những nhân viên trong bệnh viện có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ nhiễm khuẩn từ bệnh viện.
Trong khi đó, Tiến sĩ Laxminarayan cũng kêu gọi ngành y tế Mỹ cần có những nỗ lực để ngăn chặn số ca tử vong do nhiễm khuẩn từ bệnh viện tương tự như những nỗ lực phòng chống AIDS hiện nay.
"Mọi người cần phải lên tiếng để bảo vệ sức khỏe của mình", Tiến sĩ Laxminarayan nói. "Không ai có thể phản đối việc những bệnh nhân đến bệnh viện phải được giảm thiểu rủi ro. Rất nhiều loại nhiễm khuẩn từ bệnh viện có thể phòng tránh được".
Sản xuất thuốc chống ung thư có nguồn gốc thảo dược
Các nhà khoa học Iran đã sản xuất thành công Interferon-Gamma, một chất cơ bản để chống ung thư, bằng cách sử dụng các chất chiết xuất từ thảo dược.
Esmaeil Saei, Trưởng khoa Công nghệ thuộc Trường Đại học Sư phạm Iran cho biết: "Các nhà khoa học Iran đã xác định được rằng các chất chiết xuất từ thảo dược này làm cho các tế bào miễn dịch có thể sản xuất Interferon(1) và kích hoạt các thụ thể giống Toll(2)".
Ông cũng cho biết thêm: "Các ống thuốc tiêm cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư có chứa 1 miligam Interferon-Gamma mà Iran hiện đang nhập khẩu có chi phí rất cao lên đến 2.800 đô la cho mỗi ống".
"Với việc đưa loại thuốc này vào sản xuất ở những nhà máy trong nước, chúng tôi sẽ cắt giảm đến 10 phần trăm chi phí hiện tại cho loại thuốc này nếu phải nhập khẩu, việc cắt giảm chi phí này sẽ tiết kiệm một khoản đáng kể cho chi phí của đất nước", ông Saei cho biết.
Saei cũng nhấn mạnh rằng không giống như các thuốc nhập khẩu từ nước ngoài có rất nhiều tác dụng phụ, phiên bản thuốc được sản xuất trong nước không có tác dụng phụ cho bệnh nhân vì nó được làm từ chất chiết xuất thảo dược.
Ông nói rằng việc sản xuất loại chất quan trọng này làm tăng hy vọng sản xuất Interferon beta, một loại Interferon dùng để điều trị chứng đa xơ cứng.
Hai tính chất mới của acid béo omega-3
Dầu cá có thể giảm bệnh tâm thần ở người có nguy cơ cao
Một nghiên cứu mới đăng trên báo Arch of General Psychiatry đầu tháng 2/2010 với 81 bệnh nhân tuổi tư 12 đến 25 thỏa mãn chỉ tiêu nguy cơ cao bệnh tâm thần tham dự 1 nghiên cứu ngẩu nhiên, mù đôi và kiểm chứng với giả dược. Tất cả đều qua 9 buổi can thiệp điều trị về tâm lý và tâm lý xã hội. Bệnh nhân được khám bệnh hang tuần trong 4 tuần đầu, sau đó lúc 8 và 12 tuần, rồi tháng thứ 6 và tháng 12. Sau 12 tháng, tỷ suất sinh bệnh tâm thần ở người dùng omega-3 là 4.9% và ở nhóm dùng giả dược là 27.5%, khác biệt 22.6%.
Nhóm nghiên cứu kết luận dầu cá làm chậm lại phát sinh bệnh tâm thần phân liệt. Khác với thuốc trị loạn trí, dầu cá ngăn hư hại tế bào trong não và giảm mức triglyceride phá hoại.
Acid béo omega-3 cải thiện chức năng mạch máu ở người bệnh tiểu đường 2 Trong 1 nghiên cứu đăng trên báo dinh dưỡng lâm sàng Hoa-kỳ, người ta cho 34 bệnh nhân dùng mỗi ngày 2 gam omega-3 (EPA/DHA) nguyên chất hay 2 gam giả dược bằng dầu oliu trong 6 tuần. Đo hoạt động của mạch máu lúc nhịn đói, 2,4 và 6 giờ sau bữa ăn nhiều chất béo với 600 Kcalo. Chức năng mạch máu lớn đo bằng siêu âm để xem mức dãn mạch do lưu lượng máu tăng qua động mạch cánh tay phải. Chức năng vi mạch đo bằng phương pháp Doppler để xem máu tăng ở bàn tay. Khi nhịn đói, chức năng mạch máu giống nhau ở 2 nhóm. Tuy nhiên sau khi ăn, chức năng mạch máu lớn giảm tối đa 38% sau 4 giờ trong khi chỉ giảm 13% ở nhóm dùng omega-3. Về vi mạch, không thấy thay đổi trong nhóm dùng giả dược, nhưng tăng đáng kể lên đến tối đa là 27% sau 2 giờ ăn trong nhóm dùng omega-3.
TUỔI DẬY THÌ ĐÃ CÓ TỪ TRONG TRỨNG NƯỚC.
Đối các cô con gái và các cậu con trai, những yếu tố tăng trưởng sớm trong tử cung và sau khi sinh, dường như ảnh hưởng đồng thời lên các chỉ dấu sớm hay muộn của sự phát khởi tuổi dậy thì. Người ta nghi ngờ rằng dậy thì sớm (puberté précoce) làm dễ những chứng bệnh khác nhau như ung thư hay chứng béo phì. Các nhà nghiên cứu người Đức, Nadina Karaolis -Danckert và các cộng sự viên, đã muốn biết xem môi trường của những giây phút đầu tiên của cuộc sống có ảnh hưởng lên sự xuất hiện của tuổi dậy thì hay không.215 người tham dự (49,8% con gái) vào công trình nghiên cứu DONALD. Trong công trình này người ta thực hiện những phép đo người (mesures anthropométriques) liên tiếp giữa 6 và 13 tuổi để có thể đánh giá tuổi bắt đầu dậy thì và những thông tin liên quan đến trọng lượng vào lúc sinh, sự cho bú sửa mẹ, tốc độ lên cân và những đặc điểm của bố mẹ. Tuổi vào lúc kích thước cơ thể đạt cao điểm và tuổi bắt đầu kinh nguyệt cũng được tính đến.Những trẻ, cân nặng từ 2.500 đến dưới 3.000 g, có khởi đầu tuổi dậy thì 7 tháng sớm hơn. Những trẻ, đã lên cân nhanh chóng giữa lúc sinh và lúc được 24 tháng, có tuổi dậy thì 4 tháng sớm hơn những trẻ đã lên cân một cách bình thường. Một sự lên cân nhanh chóng cũng được lên kết với một sự đạt sớm cao điểm của tầm vóc và ở nơi các cô con gái, tương ứng với một bắt đầu kinh nguyệt sớm. Theo các tác giả, đối với các cô con gái và các cậu con trai, những yếu tố tăng trưởng sớm trong tử cung và đau khi sinh dường như ảnh hưởng đồng thời lên các chỉ dấu sớm và chậm của sự phát khởi của tuổi dậy thì, độc lập với sự cấu thành của cơ thể trước tuổi dậy thì.
TRÀ XANH HIỆU QUẢ TRONG SỰ NGĂN NGỪA UNG THƯ PHỔI.
Nguyên nhân đầu tiên của tử vong ở Đài Loan là ung thư phổi.
Rất nhạy cảm với tai ương này, nhóm nghiên cứu của BS I-Hson Lin (Chung Shan Medical University) đã tiến hành một cuộc điều tra về những thói quen sinh sống của 170 bệnh nhân bị ung thư phổi và của 340 người chứng lành mạnh. Những kết luận của công trình nghiên cứu mới đây đã được trình bày tại hội nghị về những cơ chế phần tử, nguồn gốc của ung thư phổi, ở Colorado (Californie). Các kết quả gây ngạc nhiên : nơi những người hút thuốc không uống trà xanh, nguy cơ được nhân lên 12,7 lần so với những người hút thuốc nhưng uống trà xanh (ngay cả chỉ uống một tách mỗi ngày). Các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ sự hiện diện của những profil di truyền được liên kết với một sự gia tăng nguy cơ mắc phải ung thư này. Nơi những người có mức độ nhạy cảm di truyền (susceptibilité génétique) thuận lợi, trà xanh làm gia tăng tác dụng bảo vệ. Các chất có lợi, được chứa trong trà xanh, có một tác dụng lên tính ổn định của các tế bào và các gène của chúng. Đó là các polyphénol, các chất chống oxy hóa (antioxydant) được biết rõ, thí dụ như épigallocatéchine, có tác dụng 200 lần mạnh hơn vitamine E.
ĂN ÍT NHANH HƠN ĐỂ ÍT BÉO PHÌ HƠN.
ALIMENTATION. Ăn ít nhanh hơn cho phép chống lại một cách hiệu quả bệnh béo phì. Đó là điều được chứng tỏ bởi mandomètre, một chiếc máy lạ kỳ được hiệu chính bởi Per Sodersten, thuộc Viện Karolinsa, Stockholm (Thụy Điển) và tuần này được trình bày trên site Internet của British Medical Journal. Chiếc cân trò bé nhỏ này được đặt dưới đĩa ăn và được nối với một máy vi tính, tác dụng như một tên " mật thám " nằm vùng để đo tốc độ khi người ta ăn.Suốt trong bữa ăn, một biểu đồ hiện lên trên màn ảnh, tùy theo trọng lượng thức ăn được lấy trong đĩa và tùy thuộc vào thời gian cần thiết để hấp thụ nó. Người sử dụng sau đó có thể so sánh đường cong được phát sinh như vậy với đường cong lý tưởng được xác định trước đây bởi nhà dinh dưỡng. Một khi đã ăn xong, máy vi tính chỉ rõ là bữa ăn đã được ăn quá nhanh hay không hoặc là quá chậm. Nhờ những chỉ dẫn được cung cấp bởi bệnh nhân, mandomètre cũng tính mức độ no nê (taux de satiété) và so sánh, luôn luôn theo cùng nguyên tắc, với một đường cong " bình thường ".Một nhóm nghiên cứu của clinique de l obésité của bệnh viện nhi đồng Bristol (Anh), được điều khiển bởi giáo sư Julian Hamilton-Shield, đã nghiên cứu ảnh hưởng của sự sử dụng mandomètre trên 106 thiếu niên bị tăng thể trọng, tuổi từ 9 đến 17, được so sánh với một nhóm chứng.Tất cả được khuyến khích luyện tập thể thao trong ít nhất một giờ mỗi ngày và theo một chế độ ăn uống cân bằng, được xác định bởi Food Standards Agency Anh.Các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng các thiếu niên tham gia công trình nghiên cứu của họ đã có thói quen ăn quá nhanh. Nhưng sau một năm họ đã chứng thực rằng những người sử dụng mandomètre đã ăn vào những khẩu phần thực phẩm với lượng ít quan trọng hơn và với một tốc độ ăn giảm 1%. Nhất là chỉ số khối lượng cơ thể (IMC > 25: tăng thể trọng và > 30: bệnh béo phì) đã hạ trung bình 2,1 điểm. Sự cải thiện đáng kể này được duy trì trong 6 tháng sau khi ngưng sử dụng máy. Điều này gợi ý một sự cải thiện dài lâu của hành vi ăn uống. Kết quả đáng lưu ý khác : nồng độ cholestérol tốt trong máu (HL) đã tăng cao hơn một cách đáng kể. Để so sánh, nơi các trẻ thuộc nhóm chứng (không sử dụng mandomètre nên ăn nhiều và nhanh), chỉ số khối lượng cơ thể (IMC) đã 3 lần thấp hơn, với một sự gia tốc 4% thời gian cần để ăn.
" Bằng cách tập trung vào tốc độ hấp thụ và khối lượng thức ăn được ăn vào của bữa ăn và bằng cách tăng cường cảm giác no nê, máy mandomètre bổ sung một cách hữu ích cho những phương pháp hiện đang có sử dụng (còn hiếm hoi) để chống lại chứng béo phì của các thiếu niên, mà không cần phải nhờ đến thuốc men ", các tác giả của công trình nghiên cứu trong BMJ đã ghi nhận như vậy. (LE FIGARO 18/1/2010)
ARN CÓ THỂ PHONG BẾ VIRUS CỦA VIÊM GAN C.
Một phép điều trị di truyền (traitement génétique) mới chống lại virus của viêm gan C, đã được trắc nghiệm nơi khỉ. Thuốc mới này có hai ưu điểm so với những thuốc cổ điển : nó hiệu quả ngay cả nhiều tháng sau khi đã cho thuốc và không gây nên đề kháng với virus. Giải thích : để tăng sinh, virus của viêm gan C cần gắn vào một phân tử nhỏ ARN, miR-122, hiện diện rất nhiều trong gan. Do đó, Robert Lanford (tổ chức nghiên cứu sinh y học San Antonio, Hoa Kỳ) và Henrik Orum (Santaris Pharma, Đan Mạch) đã có ý nghĩ phong bế ARN này bằng cách sử dụng một ARN khác, bổ sung, gắn vào đúng nơi bám của virus của viêm gan C. Điều trị như thế đã cho phép làm giảm số virus trong máu của các con khỉ được dùng để nghiên cứu. Điều trị này đã là đối tượng của một thử nghiệm lâm sàng được gọi là giai đoạn I, nhằm trắc nghiệm tính vô hại của nó nơi một số nhỏ những người tình nguyện mạnh khỏe. Theo những đánh giá của OMS, viêm gan C gây bệnh cho gần 3% dân số thế giới. (SCIENCES ET VIE 2/2010)
Tin tức cùng thời gian
| Máy Biophotonic Scanner | Oct 18, 2011 |
| Ngứa vào mùa lạnh | Oct 18, 2011 |
| Rụng Tóc | Oct 18, 2011 |
| Những bí ẩn y học chưa được giải thích | May 14, 2011 |
| Xu hướng sửa sắc đẹp ở Mỹ | Feb 10, 2011 |
| CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI (53-61) | Feb 07, 2010 |
| CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI (39-52) | Feb 07, 2010 |
| CÚM A (H1N1) : 100 CÂU HỎI. (31-38) | Jan 30, 2010 |
| Phát Hiện Gen Giúp Mọc Tóc Trở Lại | Jan 30, 2010 |
| Long nhãn - vị thuốc bổ tâm, an thần | Jan 08, 2010 |





