ĐƠN GIẢN

Jan 26, 2012 -

Krishnamurti

ĐƠN GIẢN

Lời giới thiệu: Quan sát mà không có người quan sát là cái nhìn sự vật như nó "đang là". Triết học Hy Lạp có câu: "Không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông". Thế giới thực thì luôn biến đổi như dòng nước chảy, nên sự quan sát này đòi hỏi sự ghi nhận liên tục, không có chỗ cho sự nhớ ghi của ký ức tư tưởng, không có người quan sát.

 Huệ Khả tìm tâm hoài không thấy, Tổ Đạt-ma nói : "Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó".      

Phật dạy quan sát hơi thở, đi đứng nằm ngồi, ghi nhận sự thay đổi của nó, biết để chỉ mà biết...Đó là sự quán sát vô thường, sống với hiện tại, thấy sự vật chân thật như nó "đang là".

Quan sát mà không có người quan sát như là ánh sáng đến thì bóng tối tự tan, tư tưởng và phiền não như mây mờ tan biến trước thực tại, trước cái nhìn của hiện tại "đang là" "vật tự nó" hay “vô ngã”...

Đơn giản là không phân tâm vào sự giải thích hay mục đích tìm kiếm gì khác, là không gì cả, chỉ có sự kiện cụ thể đang luôn biến đổi . Không có tư tưởng hay pháp trụ tâm, thì mọi lý giải cũng không mất đi đâu, mà nó chỉ chuyển hoá vào sự vật thành sự tập trung đơn thuần, sự trực thức đơn giản. Tất cả là trong một, như trong kinh Phật nói rằng có thể đặt núi Tu Di trong một hạt cải. Khi tất cả tư tưởng, lý giải, triết lý, phật pháp... đều tịch diệt thì sự vật sẽ được hồi sinh với tất cả linh thể của tư tưởng và vũ trụ trong sự vật chính nó. Sự đơm giản là toàn thể vũ trụ trong một, là tổng thể trọn vẹn trong sự vật duy nhất. Nếu còn bất kỳ một tâm tưởng nào khác thì đó cũng có nghĩa là còn có "vũ trụ" hay "thế giới" khác, nghĩa là đó không phải là cái tất cả, cái tổng thể  duy nhất. Vì vậy tâm tư còn mãi tìm kiếm, còn chưa thể đơn giản, khi mà còn tư tưởng, còn phân tâm "được mất" "ngộ mê" "mong cầu nhớ ghi", còn có sự nhận biết nào khác với cái "đang là”. Sự đơn giản chỉ hiện hữu khi Tất cả trong Một vậy, chân thật duy nhất,  và đó là sự tĩnh lặng, sự im lặng từ trong nội tâm vì không còn có tư tưởng nào được lựa chọn hoặc kiếm tìm...

Huệ Khả tìm tâm không thấy, Tổ Bồ-đề-đạt-ma bảo “Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó”... Quả vậy không thể thấy tâm mới là thấy tâm, vì dòng chảy của thực tại không có chỗ cho ký ức tư tưởng.

Một nhà sư trẻ cõng cô gái qua con sông nhỏ, làm cho vị sư huynh cùng đi mãi bực bội, trách móc "ai đó" "không chịu giữ gìn giới luật". Vị sư đệ nói: "Đệ đã bỏ cô gái ấy bên bờ sông, sao huynh còn mang cô ta đến tận bây giờ". Đơn giản là vô sự như không có chuyện gì xảy ra, như chưa từng xảy ra. 

Chỉ có sự đơn giản, trọn vẹn và chân thật trong hiện tại, mới có khả năng quên được cái đã qua, im lặng mà hoá giải mọi nghịch cảnh phiền não...

                                                                                                 (Thiện Võ)

Tôi muốn thảo luận về bản tính của đơn giản , và có lẽ nhờ sự thảo luận này, chúng ta có thể đi đến việc khám phá ý nghĩa của cảm tính, khám phá tính nhạy cảm. Dường như chúng ta nghĩ rằng sự đơn giản chỉ là một sự biểu hiện bên ngoài, một tâm thái ẩn dật rút lui khỏi đời sống ; chỉ có rất ít vật sở hữu, đóng khố, vô gia cư, không nhà cửa, mặc đôi ba manh áo quần, dành dụm một món tiền nho nhỏ ở ngân hàng. Cố nhiên, đó không phải là đơn giản. Đó chỉ là sự phô trương bên ngoài.

Đơn giản không phải là chỉ khuôn rập theo một mẫu mực nhất định. Phải thông minh vô cùng thì mới đơn giản được, chứ không phải chỉ tuân hòa theo một khuôn khổ cố định nào.

Để mà có thể thoát ly ra ngoài sự phức tạp rối rắm của đời sống, chúng ta cố gắng từ bỏ hoặc xa lìa những sự vật, xa lìa những chiếc ô tô, xa lìa nhà cửa, xa lìa những tổ chức, xa lìa những rạp chiếu bóng và xa lìa vô số những hoàn cảnh bên ngoài dồn dập vào mình. Chúng ta cho rằng chúng ta sẽ sống đơn sơ giản dị bằng cách rút lui, thoát ly ra ngoài đời sống. Quá nhiều bậc thánh, quá nhiều bậc tôn sư đã từ bỏ thế tục, đối với tôi, bất cứ người nào từ bỏ thế tục như thế thì chẳng giải quyết được vấn đề gì cả. Sự đơn sơ giản dị, mối căn nguyên nền tảng thiết thực ấy, chỉ có thể xuất hiện bên trong tâm hồn ; và từ bên trong tâm hồn ấy mới xuất phát hình thức bên ngoài.

Mình chỉ có thể đơn giản trong nội tâm , cố nhiên là khi nào mình hiểu được vô số những trở ngại, những cố chấp, sợ hãi mà mình bị vướng kẹt. Nhưng phần đông chúng ta thích bị vướng kẹt, thích bị ràng buộc trong nhân thế, trong những vật sở hữu, trong những ý tưởng. Chúng ta thích làm những kẻ tù tội lao lung. Trong tâm tư, chúng ta đúng những kẻ bị nhốt tù, dù bên ngoài chúng ta có vẻ như sống đơn giản dễ chịu. Trong tâm tư, chúng ta bị nhốt tù trong những sự thèm khát, những ham muốn, những lý tưởng , trong vô số động lực tâm lý. Mình không thể nào tìm được sự đơn giản, chỉ trừ ra khi nào mình được giải phóng, được tự do trong tâm tư. Do đó, sự đơn giản phải bắt đầu từ trong, chứ không phải từ ngoài.

Xã hội, hay bất cứ hình thức hành động nào, đều là sự phóng hiện của bản thân chúng ta ; không chuyển hóa nội tâm , mà chỉ lo lập pháp bên ngoài thôi thì chẳng có ý nghĩa gì đáng kể, việc ấy có thể đem đến một vài sự cải cách nào đó, một vài sự điều chỉnh nào đó, nhưng những gì mình chứa đựng trong tâm khảm vẫn chế phục, lấn áp, khuynh lướt hoàn cảnh bên ngoài. Nếu trong tâm khảm mình vẫn gian tham, tham vọng, đeo đuổi một số lý tưởng nào đó ; sự phức tạp rối rắm trong tâm khảm ấy sớm muộn gì rồi cũng khuynh đảo lật đổ xã hội bên ngoài, dù xã hội ấy có được tổ chức trù định một cách qui mô cẩn thận đến đâu đi nữa, cơ cấu qui mô của nó vẫn bị phá đổ.

Vì lý do như thế, mình cần phải bắt đầu từ bên trong tâm khảm trước hết, đồng thời vẫn không độc chiếm chuyên đoán, không khai trừ ngoại giới. Cố nhiên các ngài đi đến thế giới nội tâm bằng cách lãnh hội thế giới bên ngoài, bằng cách tìm xem thể điệu hiện hữu của sự xung đột, sự giao tranh, thống khổ ở ngoại giới, lúc mình khảo sát điều ấy một cách thâm trầm hơn, hiển nhiên mình thâm nhập vào những trạng huống tâm lý đã phát sinh ra những xung đột thống khổ ở ngoại giới. Sự phát hiện bên ngoài chỉ là dấu hiệu của trạng huống bên trong, nhưng muốn hiểu được trạng huống nội tâm, mình cần phải đi vào bằng cửa ngỏ bên ngoài. Phần đông chúng ta hành động như thế. Khi muốn hiểu được nội giới mà không phải độc chiếm và khai trừ ngoại giới, trái lại, hiểu nội giới bằng cách hiểu ngoại giới, tình cờ lý nhập được nội giới bằng sự thể nhận ngoại giới ; khi hiểu được như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng lúc tiến sâu vào những uẩn khúc nội tâm của hiện thể chúng ta càng lúc càng trở nên nhạy cảm và tự do. Chính sự đơn giản nội tâm này mới chính yếu, vì sự đơn giản đã tạo ra lòng xúc cảm bén nhạy. Một đầu óc thiếu nhạy cảm, không thức tỉnh, không ý thức thì không thể nào biết thụ cảm, đón nhận, không thể nào biết hành động khai sáng, hành động sáng tạo . Ăn rập vào khuôn thước ước lệ và làm thế như một phương tiện để cho mình trở nên đơn sơ giản dị thì thực ra chỉ là làm cho tâm trí trở thành khô cằn, chán chường, chai lì, vô giác. Bất cứ hình thức cưỡng ép thị uy nào do chính quyền gây ra, do chính bản thân, do lý tưởng thành đạt, vân vân, bất cứ hình thức khuôn thước ước lệ nào rốt cục rồi cũng phải gây ra trạng thái vô giác, không biết xúc cảm bén nhạy, bởi vì không biết sống đơn sơ giản dị trong tâm hồn. Các ngài có thể khuôn đúc dáng dấp bên ngoài và tỏ vẻ đơn sơ giản dị , giống như trường hợp của nhiều tín đồ tu sĩ. Họ thực hành nhiều kỷ luật tâm tư chi li, gia nhập đủ loại tổ chức, tham thiền nhập định theo đủ lối, vân vân, tất cả nỗ lực của họ đều hướng về hình tướng dáng dấp đơn sơ giản dị ở bề ngoài, nhưng sự khuôn định công thức như vậy không đưa đến sự đơn giản thực sự. Bất cứ sự bức bách cưỡng ép nào cũng không bao giờ đưa đến sự đơn giản. Trái lại, các ngài càng đàn áp, càng tìm cách thay thế, càng tìm cách làm cao thượng thì các ngài càng ít được đơn giản ; nhưng các ngài càng hiểu được tiến trình của sự cao thượng hóa, của đàn áp, của việc thay thế cái này bằng cái kia, các ngài càng hiểu được biến trình này thì các ngài càng có thể đạt được trạng thái đơn sơ giản dị.

Tất cả những vấn đề của chúng ta đều quá phức tạp rối rắm, những vấn đề thuộc phạm vi xã hội, hoàn cảnh, chính trị, tôn giáo, có thể giải quyết được bằng một đời sống giản dị đơn sơ, chứ không phải bằng cách trở thành uyên bác, thông thái, tinh thạo xuất chúng. Một người đơn giản có thể tri kiến một cách trực tiếp, trực nghiệm ngay lập tức, thẳng thắn, mau lẹ hơn một người phức tạp. Tâm trí chúng ta nhét vô số kiến thức về những sự kiện, về những gì người khác đã nói, đầu óc chúng ta đầy ứ những kiến thức vụn vặt rối rít như vậy, đến nỗi chúng ta không còn có khả năng sống giản dị và tự mình trực nghiệm. Tất cả những vấn đề phức tạp đòi hỏi chúng ta phải có một đường lối đón nhận mới mẻ, chúng ta chỉ có thể đón nhận những vấn đề ấy một cách mới mẻ, khi chúng ta đơn sơ giản dị, thực sự đơn giản bên trong tâm hồn. Sự đơn giản này chỉ xuất hiện lúc mình tự hiểu mình, tự tri ; những đường lối cảm nghĩ của chúng ta ; sự vận hành của tư tưởng chúng ta ; sự đáp ứng của chúng ta ; cách chúng ta đóng khung ăn rập theo dư luận, vì sợ hãi, đóng khuôn theo những gì kẻ khác đã nói, những gì Phật, Chúa, các bậc đại thánh đã dạy bảo, tất cả sự khuôn đúc ấy nói lên bản chất của chúng ta, bản chất thích ăn rập theo khuôn mẫu, theo công thức, thích được an ninh an toàn. Mỗi khi mình đi tìm sự an ninh, an toàn, hiển nhiên mình luôn luôn vẫn ở trạng huống lo lắng sợ hãi, và do thế, mình không thể nào đơn sơ giản dị được. Không đơn sơ giản dị, mình không thể nào nhạy cảm, không thể nào xúc động nhạy cảm trước những cây lá, những chim chóc, đồi núi, gió, trước tất cả những sự vật đang xảy ra chung quanh chúng ta trên đời sống này ; nếu mình không đơn sơ, mình không thể nào xúc động nhạy cảm trước sự tỏ bày thắm thiết lặng lẽ trong lòng sự vật. Hầu hết chúng ta đều sống quá hời hợt, chỉ sống trên thượng tầng của ý thức, trên thượng tầng ý thức ấy, chúng ta cố gắng trầm mặc hoặc thông tri, tu hành mộ đạo thì cũng đồng nghĩa như vậy. Trên thượng tầng ý thức ấy, chúng ta cố gắng làm tâm trí mình trở nên đơn giản, bằng cách bức bách cưỡng ép, qua qui phạm kỷ luật. Làm như vậy chẳng có gì là đơn sơ giản dị cả. Khi chúng ta cưỡng bức thượng tầng tâm trí, cưỡng ép trí óc trở thành đơn giản, cưỡng bách như vậy chỉ làm chai lòng, chứ không làm tâm trí trở thành uyển chuyển, mềm mỏng, trong sáng, hoạt bát, nhanh nhẹn. Sống đơn giản trong toàn thể tiến trình toàn diện của ý thức mình, đó là một điều vô cùng gian truân khó khăn, vì muốn được thế, mình phải có tâm hồn cởi mở, không gìn giữ, phải hăm hở tìm tòi đi sâu vào tiến trình hiện thể mình, nghĩa là mình phải thức tỉnh theo dõi tất cả sự tỏ bày lặng lẽ, tất cả gợi ý kín đáo, ý thức tất cả sự sợ hãi của lòng mình, tất cả hoài vọng ; khảo sát và càng lúc càng giải thoát ra ngoài tất cả những thứ ấy. Chỉ có lúc ấy, lúc tâm trí thực sự đơn giản , không còn bị đóng cặn bọc lớp, thì chúng ta mới có thể giải quyết được bao nhiêu vấn đề mà chúng ta phải đương đầu.

Mình phải có khả năng khảo sát tất cả mọi sự một cách mới mẻ luôn ; vì chỉ có trực nghiệm kinh nghiệm trực tiếp mới có thể giải quyết những vấn đề của chúng ta được, muốn có trực nghiệm, mình phải đơn giản, nghĩa là mình phải nhạy cảm. Sức nặng của kiến thức học thức, đã khiến cho tâm trí trở thành trì độn, trầm trệ, thiếu sâu sắc và cùn lụt, buồn tẻ. Trí óc trở nên cùn : chính quá khứ, chính tương lai đã làm trí óc trở nên như thế. Chỉ có một tâm trí tương ứng với hiện tại một cách liên tục từ giây phút này đến giây phút khác thì mới có thể tương nhiếp với những ảnh hưởng , áp lực mạnh mẽ do hoàn cảnh bên ngoài liên miên đổ dồn vào đời sống chúng ta .

Vậy, một người mộ đạo, một kẻ tu hành thực ra không phải là một kẻ mặc áo dòng tu hay đóng khố, hoặc đã phát nguyện như thế này và không như thế kia ; một kẻ chân tu là người thực sự đơn giản trong tâm hồn, một kẻ không trở thành một cái gì cả. Chỉ có một người có tâm thái như thế mới có khả năng đón nhận phi thường, vì lòng kẻ ấy không còn biên giới ngăn cách, không còn sợ hãi, không còn ngưỡng vọng, hướng về một chân trời nào cả, nhờ thế, mà kẻ ấy mới có thể đón nhận thiên ân, thánh sũng, thiên hựu, Thượng đế, chân lý, hay muốn gọi gì thì cứ gọi. Tuy nhiên, kẻ nào có đầu óc đi tìm kiếm đeo đuổi thực tại thì vẫn không phải là kẻ sống đơn giản. Tâm trí của một kẻ tra kiếm, tìm tòi, sờ soạng, xao động, vẫn không phải là tâm trí đơn giản. Tâm trí của một người qui thuận theo một khuôn mẫu quyền uy nào đó, nội tâm hay ngoại giới, vẫn không thể nào biết nhạy cảm. Chỉ có một tâm trí bén nhạy thực sự, linh động thức tỉnh thực sự, ý thức được tất cả sự vận hành biểu hiện của mình, những đáp ứng, những tư tưởng , khi tâm trí ấy không còn trở thành, hình thành, không còn khuôn nắn mình để được một sự thể nào đó : chỉ có lúc ấy, tâm trí mới có khả năng đón nhận thực thể, tức là sự thực. Chỉ có lúc ấy mình mới có thể có được hạnh phúc, vì hạnh phúc không phải là cứu cánh, hạnh phúc chính là thành quả của thực tại. Khi tâm trí đã trở nên đơn giản, và nhờ đơn giản, nên nhạy cảm ; đơn giản nhạy cảm không phải do bất cứ hình thức bức bách, hướng dẫn, cưỡng bách, bắt buộc nào, khi tâm trí trở thành đơn giản và nhạy cảm như vậy thì chúng ta mới thấy rằng tất cả những vấn đề của chúng ta đều có thể được nhiếp dẫn một cách đơn sơ giản dị . Dù những vấn đề của chúng ta có phức tạp đi nữa, chúng ta vẫn có thể nhiếp dẫn những vấn đề ấy một cách mới lạ tươi tắn và được một cái nhìn biện biệt rõ rệt. Hiện thời chúng ta cần phải như thế ; mọi người phải có khả năng đối mặt với sự hỗn độn, náo động, tương phản, đối nghịch ở bên ngoài, đối mặt một cách mới lạ, một cách sáng tạo, một cách đơn sơ giản dị, không phải bằng những lý thuyết, cũng không phải bằng những phương trình của phái tả hay phái hữu. Các ngài không đơn sơ giản dị thì các ngài không thể nào đối mặt với ngoại vật một cách mới mẻ linh hoạt.

Bất cứ vấn đề nào cũng có thể giải quyết được và chỉ có thể giải quyết được, mỗi khi chúng ta tiếp dẫn, nhiếp dẫn vấn đề ấy như trên. Chúng ta không thể nào nhiếp dẫn vấn đề một cách mới lạ, khi chúng ta còn suy tư trong phạm trù của những mẫu mực tư tưởng nào đó, thuộc phạm vi tôn giáo, chính trị, hay những phạm vi khác. Vì thế, muốn được đơn sơ giản dị, chúng ta phải giải thoát ra ngoài tất cả những phạm trù mẫu mực ấy. Do đó, điều quan trọng là mình phải ý thức, phải có khả năng hiểu được tiến trình suy tư của chính mình, ý thức bản thân một cách toàn diện, nhờ thế, sự đơn giản mới hiện đến, sự khiêm tốn, từ tốn mới hiện đến, và lòng từ tốn này phát hiện tự nhiên, chứ không phải là một nhân đức được tôi luyện hoặc do tập quán thực hành. Lòng khiêm nhượng từ tốn, xuất phát từ sự thâu đạt sở đắc thì không còn đúng là khiêm nhượng, từ tốn. Một người có ý muốn làm mình trở thành khiêm nhượng, khiêm tốn thì không còn là một người khiêm tốn nữa. Chỉ khi nào mình khiêm tốn một cách tự nhiên, chứ không phải khiêm tốn vì tôi luyện, chỉ lúc ấy mình mới có thể đón gặp đối mặt nổi sự đời quá dồn dập, vì lúc ấy mình không còn quan trọng nữa, mình không nhìn đời qua sự khuôn ép nội tâm và qua cảm thức về sự quan trọng của mình, mình nhìn vấn đề trong tự bản thể của vấn đề ấy, và nhờ vậy, mình mới có thể giải tan vấn đề ấy.

T.V. trích lược from https://sites.google.com/site/tudodautienvacuoicung/chuong-xi-dhon-gian

Nhận xét

_displayNameOrEmail_ - _time_ - Xóa

_text_


Tin tức cùng thời gian

Sự Hoàn Thiện Của Tinh TấnFeb 20, 2012
HY VỌNGFeb 20, 2012
Tại sao chúng ta chọn bất hạnhFeb 13, 2012
NHẪN NHỤCFeb 13, 2012
HÀNH ĐỘNG VÀ Ý TƯỞNGFeb 01, 2012
NHÂN DUYÊN Jan 18, 2012
TRỰC THỨC Jan 18, 2012
Từ Dục tới Siêu tâm thức Jan 06, 2012
Từ Dục tới Siêu tâm thứcJan 06, 2012
BẢN NGÃ LÀ GÌ ?Dec 20, 2011

Copyright(c) 2009 Viet My Magazine.
Website: www.VietMyMagazine.net | Email: VietMyMagazine@gmail.com
Tòa Soạn I : 1125 E. Passyunk Ave., Philadelphia PA 19147 | Tel: 215.475.7511 - 267.709.9855 | Fax: 215.336.2458
Tòa Soạn II: 6286C Arlington Blvd. - Falls Church, VA 22044 | Tel: 703.962.0607 | Fax: 703.538.2194
Designed by Kulsign