|
Lời
giới thiệu: Quan sát mà không có người quan sát là cái nhìn sự vật như nó
"đang là". Triết học Hy Lạp có câu: "Không thể tắm hai lần
trên cùng một dòng sông". Thế giới thực thì luôn biến đổi như dòng
nước chảy, nên sự quan sát này đòi hỏi sự ghi nhận liên tục, không có chỗ
cho sự nhớ ghi của ký ức tư tưởng, không có người quan sát.
Huệ Khả tìm tâm hoài không thấy, Tổ Đạt-ma nói : "Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó".
Phật
dạy quan sát hơi thở, đi đứng nằm ngồi, ghi nhận sự thay đổi của nó, biết
để chỉ mà biết...Đó là sự quán sát vô thường, sống với hiện tại, thấy sự
vật chân thật như nó "đang là".
Quan
sát mà không có người quan sát như là ánh sáng đến thì bóng tối tự tan, tư
tưởng và phiền não như mây mờ tan biến trước thực tại, trước cái nhìn của
hiện tại "đang là" "vật tự nó" hay “vô ngã”...
Đơn
giản là không phân tâm vào sự giải thích hay mục đích tìm kiếm gì khác,
là
không gì cả, chỉ có sự kiện cụ thể đang luôn biến đổi . Không có tư tưởng
hay pháp trụ tâm, thì mọi lý giải cũng không mất đi đâu, mà nó chỉ chuyển
hoá vào sự vật thành sự tập trung đơn thuần, sự trực thức đơn giản. Tất cả
là trong một, như trong kinh Phật nói rằng có thể đặt núi Tu Di trong một
hạt cải. Khi tất cả tư tưởng, lý giải, triết lý, phật pháp... đều tịch diệt
thì sự vật sẽ được hồi sinh với tất cả linh thể của tư tưởng và vũ trụ
trong sự vật chính nó. Sự đơm giản là toàn thể vũ trụ trong một, là tổng
thể trọn vẹn trong sự vật duy nhất. Nếu còn bất kỳ một tâm tưởng nào khác
thì đó cũng có nghĩa là còn có "vũ trụ" hay
"thế giới" khác, nghĩa là đó không phải là cái tất cả, cái tổng
thể duy nhất. Vì vậy tâm tư còn mãi
tìm kiếm, còn chưa thể đơn giản, khi mà còn tư tưởng, còn phân tâm "được
mất" "ngộ mê" "mong cầu nhớ ghi", còn có sự nhận
biết nào khác với cái "đang là”. Sự đơn giản chỉ hiện hữu khi Tất cả trong
Một vậy, chân thật duy nhất, và đó
là sự tĩnh lặng, sự im lặng từ trong nội tâm vì không còn có tư tưởng nào
được lựa chọn hoặc kiếm tìm...
Huệ
Khả tìm tâm không thấy, Tổ Bồ-đề-đạt-ma bảo “Ta đã an tâm cho ngươi rồi đó”...
Quả vậy không thể thấy tâm mới là thấy tâm, vì dòng chảy của thực tại không
có chỗ cho ký ức tư tưởng.
Một nhà sư trẻ cõng cô gái qua con sông nhỏ, làm
cho vị sư huynh cùng đi mãi bực bội, trách móc "ai đó"
"không chịu giữ gìn giới luật". Vị sư đệ nói: "Đệ đã bỏ cô
gái ấy bên bờ sông, sao huynh còn mang cô ta đến tận bây giờ". Đơn
giản là vô sự như không có chuyện gì xảy ra, như chưa từng xảy ra.
Chỉ có sự đơn giản, trọn vẹn và chân thật trong
hiện tại, mới có khả năng quên được cái đã qua, im lặng mà hoá giải mọi
nghịch cảnh phiền não...
(Thiện Võ)
Tôi muốn thảo luận về bản tính của đơn giản , và
có lẽ nhờ sự thảo luận này, chúng ta có thể đi đến việc khám phá ý nghĩa
của cảm tính, khám phá tính nhạy cảm. Dường như chúng ta nghĩ rằng sự đơn
giản chỉ là một sự biểu hiện bên ngoài, một tâm thái ẩn dật rút lui khỏi
đời sống ; chỉ có rất ít vật sở hữu, đóng khố, vô gia cư, không nhà cửa,
mặc đôi ba manh áo quần, dành dụm một món tiền nho nhỏ ở ngân hàng. Cố
nhiên, đó không phải là đơn giản. Đó chỉ là sự phô trương bên ngoài.
Đơn giản không phải là chỉ khuôn rập theo một mẫu
mực nhất định. Phải thông minh vô cùng thì mới đơn giản được, chứ không
phải chỉ tuân hòa theo một khuôn khổ cố định nào.
Để mà có thể thoát ly ra ngoài sự phức tạp rối rắm
của đời sống, chúng ta cố gắng từ bỏ hoặc xa lìa những sự vật, xa lìa những
chiếc ô tô, xa lìa nhà cửa, xa lìa những tổ chức, xa lìa những rạp chiếu
bóng và xa lìa vô số những hoàn cảnh bên ngoài dồn dập vào mình. Chúng ta
cho rằng chúng ta sẽ sống đơn sơ giản dị bằng cách rút lui, thoát ly ra
ngoài đời sống. Quá nhiều bậc thánh, quá nhiều bậc tôn sư đã từ bỏ thế tục,
đối với tôi, bất cứ người nào từ bỏ thế tục như thế thì chẳng giải quyết
được vấn đề gì cả. Sự đơn sơ giản dị, mối căn nguyên nền tảng thiết thực
ấy, chỉ có thể xuất hiện bên trong tâm hồn ; và từ bên trong tâm hồn ấy mới
xuất phát hình thức bên ngoài.
Mình chỉ có thể đơn giản trong nội tâm , cố nhiên
là khi nào mình hiểu được vô số những trở ngại, những cố chấp, sợ hãi mà
mình bị vướng kẹt. Nhưng phần đông chúng ta thích bị vướng kẹt,
thích bị ràng buộc trong nhân thế, trong những vật sở hữu, trong những ý
tưởng. Chúng ta thích làm những kẻ tù tội lao lung. Trong tâm tư, chúng ta
đúng là những kẻ bị nhốt tù, dù bên ngoài chúng ta có vẻ như sống
đơn giản dễ chịu. Trong tâm tư, chúng ta bị nhốt tù trong những sự thèm
khát, những ham muốn, những lý tưởng , trong vô số động lực tâm lý. Mình
không thể nào tìm được sự đơn giản, chỉ trừ ra khi nào mình được giải
phóng, được tự do trong tâm tư. Do đó, sự đơn giản phải bắt đầu từ trong,
chứ không phải từ ngoài.
Xã hội, hay bất cứ hình thức hành động nào, đều là
sự phóng hiện của bản thân chúng ta ; không chuyển hóa nội tâm , mà chỉ lo
lập pháp bên ngoài thôi thì chẳng có ý nghĩa gì đáng kể, việc ấy có thể đem
đến một vài sự cải cách nào đó, một vài sự điều chỉnh nào đó, nhưng những
gì mình chứa đựng trong tâm khảm vẫn chế phục, lấn áp, khuynh lướt hoàn
cảnh bên ngoài. Nếu trong tâm khảm mình vẫn gian tham, tham vọng, đeo đuổi
một số lý tưởng nào đó ; sự phức tạp rối rắm trong tâm khảm ấy sớm muộn gì
rồi cũng khuynh đảo lật đổ xã hội bên ngoài, dù xã hội ấy có được tổ chức
trù định một cách qui mô cẩn thận đến đâu đi nữa, cơ cấu qui mô của nó vẫn
bị phá đổ.
Vì lý do như thế, mình cần phải bắt đầu từ bên
trong tâm khảm trước hết, đồng thời vẫn không độc chiếm chuyên đoán, không
khai trừ ngoại giới. Cố nhiên các ngài đi đến thế giới nội tâm bằng cách
lãnh hội thế giới bên ngoài, bằng cách tìm xem thể điệu hiện hữu của sự
xung đột, sự giao tranh, thống khổ ở ngoại giới, lúc mình khảo sát điều ấy
một cách thâm trầm hơn, hiển nhiên mình thâm nhập vào những trạng huống tâm
lý đã phát sinh ra những xung đột thống khổ ở ngoại giới. Sự phát hiện bên
ngoài chỉ là dấu hiệu của trạng huống bên trong, nhưng muốn hiểu được trạng
huống nội tâm, mình cần phải đi vào bằng cửa ngỏ bên ngoài. Phần đông chúng
ta hành động như thế. Khi muốn hiểu được nội giới mà không phải độc chiếm
và khai trừ ngoại giới, trái lại, hiểu nội giới bằng cách hiểu ngoại giới,
tình cờ lý nhập được nội giới bằng sự thể nhận ngoại giới ; khi hiểu được
như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng lúc tiến sâu vào những uẩn khúc nội tâm của
hiện thể chúng ta càng lúc càng trở nên nhạy cảm và tự do. Chính sự đơn
giản nội tâm này mới chính yếu, vì sự đơn giản đã tạo ra lòng xúc cảm bén
nhạy. Một đầu óc thiếu nhạy cảm, không thức tỉnh, không ý thức thì không
thể nào biết thụ cảm, đón nhận, không thể nào biết hành động khai sáng,
hành động sáng tạo . Ăn rập vào khuôn thước ước lệ và làm thế như một
phương tiện để cho mình trở nên đơn sơ giản dị thì thực ra chỉ là làm cho
tâm trí trở thành khô cằn, chán chường, chai lì, vô giác. Bất cứ hình thức
cưỡng ép thị uy nào do chính quyền gây ra, do chính bản thân, do lý tưởng
thành đạt, vân vân, bất cứ hình thức khuôn thước ước lệ nào rốt cục rồi
cũng phải gây ra trạng thái vô giác, không biết xúc cảm bén nhạy, bởi vì
không biết sống đơn sơ giản dị trong tâm hồn. Các ngài có thể khuôn đúc
dáng dấp bên ngoài và tỏ vẻ đơn sơ giản dị , giống như trường hợp của nhiều
tín đồ tu sĩ. Họ thực hành nhiều kỷ luật tâm tư chi li, gia nhập đủ loại tổ
chức, tham thiền nhập định theo đủ lối, vân vân, tất cả nỗ lực của họ đều
hướng về hình tướng dáng dấp đơn sơ giản dị ở bề ngoài, nhưng sự khuôn định
công thức như vậy không đưa đến sự đơn giản thực sự. Bất cứ sự bức bách cưỡng
ép nào cũng không bao giờ đưa đến sự đơn giản. Trái lại, các ngài càng đàn
áp, càng tìm cách thay thế, càng tìm cách làm cao thượng thì các ngài càng
ít được đơn giản ; nhưng các ngài càng hiểu được tiến trình của sự cao
thượng hóa, của đàn áp, của việc thay thế cái này bằng cái kia, các ngài
càng hiểu được biến trình này thì các ngài càng có thể đạt được trạng thái
đơn sơ giản dị.
Tất cả những vấn đề của chúng ta đều quá phức tạp
rối rắm, những vấn đề thuộc phạm vi xã hội, hoàn cảnh, chính trị, tôn giáo,
có thể giải quyết được bằng một đời sống giản dị đơn sơ, chứ không phải
bằng cách trở thành uyên bác, thông thái, tinh thạo xuất chúng. Một người
đơn giản có thể tri kiến một cách trực tiếp, trực nghiệm ngay lập tức,
thẳng thắn, mau lẹ hơn một người phức tạp. Tâm trí chúng ta nhét vô số kiến
thức về những sự kiện, về những gì người khác đã nói, đầu óc chúng ta đầy ứ
những kiến thức vụn vặt rối rít như vậy, đến nỗi chúng ta không còn có khả
năng sống giản dị và tự mình trực nghiệm. Tất cả những vấn đề phức tạp đòi
hỏi chúng ta phải có một đường lối đón nhận mới mẻ, chúng ta chỉ có thể đón
nhận những vấn đề ấy một cách mới mẻ, khi chúng ta đơn sơ giản dị, thực sự
đơn giản bên trong tâm hồn. Sự đơn giản này chỉ xuất hiện lúc mình tự hiểu
mình, tự tri ; những đường lối cảm nghĩ của chúng ta ; sự vận hành của tư
tưởng chúng ta ; sự đáp ứng của chúng ta ; cách chúng ta đóng khung ăn rập
theo dư luận, vì sợ hãi, đóng khuôn theo những gì kẻ khác đã nói, những gì
Phật, Chúa, các bậc đại thánh đã dạy bảo, tất cả sự khuôn đúc ấy nói lên
bản chất của chúng ta, bản chất thích ăn rập theo khuôn mẫu, theo công
thức, thích được an ninh an toàn. Mỗi khi mình đi tìm sự an ninh, an toàn,
hiển nhiên mình luôn luôn vẫn ở trạng huống lo lắng sợ hãi, và do thế, mình
không thể nào đơn sơ giản dị được. Không đơn sơ giản dị, mình không thể nào
nhạy cảm, không thể nào xúc động nhạy cảm trước những cây lá, những chim
chóc, đồi núi, gió, trước tất cả những sự vật đang xảy ra chung quanh chúng
ta trên đời sống này ; nếu mình không đơn sơ, mình không thể nào xúc động
nhạy cảm trước sự tỏ bày thắm thiết lặng lẽ trong lòng sự vật. Hầu hết
chúng ta đều sống quá hời hợt, chỉ sống trên thượng tầng của ý thức, trên
thượng tầng ý thức ấy, chúng ta cố gắng trầm mặc hoặc thông tri, tu hành mộ
đạo thì cũng đồng nghĩa như vậy. Trên thượng tầng ý thức ấy, chúng ta cố
gắng làm tâm trí mình trở nên đơn giản, bằng cách bức bách cưỡng ép, qua
qui phạm kỷ luật. Làm như vậy chẳng có gì là đơn sơ giản dị cả. Khi chúng
ta cưỡng bức thượng tầng tâm trí, cưỡng ép trí óc trở thành đơn giản, cưỡng
bách như vậy chỉ làm chai lòng, chứ không làm tâm trí trở thành uyển
chuyển, mềm mỏng, trong sáng, hoạt bát, nhanh nhẹn. Sống đơn giản trong
toàn thể tiến trình toàn diện của ý thức mình, đó là một điều vô cùng gian
truân khó khăn, vì muốn được thế, mình phải có tâm hồn cởi mở, không gìn
giữ, phải hăm hở tìm tòi đi sâu vào tiến trình hiện thể mình, nghĩa là mình
phải thức tỉnh theo dõi tất cả sự tỏ bày lặng lẽ, tất cả gợi ý kín đáo, ý
thức tất cả sự sợ hãi của lòng mình, tất cả hoài vọng ; khảo sát và càng
lúc càng giải thoát ra ngoài tất cả những thứ ấy. Chỉ có lúc ấy, lúc tâm
trí thực sự đơn giản , không còn bị đóng cặn bọc lớp, thì chúng ta mới có
thể giải quyết được bao nhiêu vấn đề mà chúng ta phải đương đầu.
Mình phải có khả năng khảo sát tất cả mọi sự một
cách mới mẻ luôn ; vì chỉ có trực nghiệm kinh nghiệm trực tiếp mới
có thể giải quyết những vấn đề của chúng ta được, muốn có trực nghiệm, mình
phải đơn giản, nghĩa là mình phải nhạy cảm. Sức nặng của kiến thức học thức,
đã khiến cho tâm trí trở thành trì độn, trầm trệ, thiếu sâu sắc và cùn lụt,
buồn tẻ. Trí óc trở nên cùn : chính quá khứ, chính tương lai đã làm trí óc
trở nên như thế. Chỉ có một tâm trí tương ứng với hiện tại một cách liên
tục từ giây phút này đến giây phút khác thì mới có thể tương nhiếp với
những ảnh hưởng , áp lực mạnh mẽ do hoàn cảnh bên ngoài liên miên đổ dồn
vào đời sống chúng ta .
Vậy, một người mộ đạo, một kẻ tu hành thực ra
không phải là một kẻ mặc áo dòng tu hay đóng khố, hoặc đã phát nguyện như
thế này và không như thế kia ; một kẻ chân tu là người thực sự đơn giản
trong tâm hồn, một kẻ không trở thành một cái gì cả. Chỉ có một
người có tâm thái như thế mới có khả năng đón nhận phi thường, vì lòng kẻ
ấy không còn biên giới ngăn cách, không còn sợ hãi, không còn ngưỡng vọng,
hướng về một chân trời nào cả, nhờ thế, mà kẻ ấy mới có thể đón nhận thiên
ân, thánh sũng, thiên hựu, Thượng đế, chân lý, hay muốn gọi gì thì cứ gọi.
Tuy nhiên, kẻ nào có đầu óc đi tìm kiếm đeo đuổi thực tại thì vẫn
không phải là kẻ sống đơn giản. Tâm trí của một kẻ tra kiếm, tìm tòi, sờ
soạng, xao động, vẫn không phải là tâm trí đơn giản. Tâm trí của một người
qui thuận theo một khuôn mẫu quyền uy nào đó, nội tâm hay ngoại giới, vẫn
không thể nào biết nhạy cảm. Chỉ có một tâm trí bén nhạy thực sự, linh động
thức tỉnh thực sự, ý thức được tất cả sự vận hành biểu hiện của mình, những
đáp ứng, những tư tưởng , khi tâm trí ấy không còn trở thành, hình thành,
không còn khuôn nắn mình để được là một sự thể nào đó : chỉ có lúc
ấy, tâm trí mới có khả năng đón nhận thực thể, tức là sự thực. Chỉ có lúc
ấy mình mới có thể có được hạnh phúc, vì hạnh phúc không phải là cứu cánh,
hạnh phúc chính là thành quả của thực tại. Khi tâm trí đã trở nên đơn giản,
và nhờ đơn giản, nên nhạy cảm ; đơn giản nhạy cảm không phải do bất cứ hình
thức bức bách, hướng dẫn, cưỡng bách, bắt buộc nào, khi tâm trí trở thành
đơn giản và nhạy cảm như vậy thì chúng ta mới thấy rằng tất cả những vấn đề
của chúng ta đều có thể được nhiếp dẫn một cách đơn sơ giản dị . Dù những
vấn đề của chúng ta có phức tạp đi nữa, chúng ta vẫn có thể nhiếp dẫn những
vấn đề ấy một cách mới lạ tươi tắn và được một cái nhìn biện biệt rõ rệt.
Hiện thời chúng ta cần phải như thế ; mọi người phải có khả năng đối mặt
với sự hỗn độn, náo động, tương phản, đối nghịch ở bên ngoài, đối mặt một
cách mới lạ, một cách sáng tạo, một cách đơn sơ giản dị, không phải bằng
những lý thuyết, cũng không phải bằng những phương trình của phái tả hay
phái hữu. Các ngài không đơn sơ giản dị thì các ngài không thể nào đối
mặt với ngoại vật một cách mới mẻ linh hoạt.
Bất cứ vấn đề nào
cũng có thể giải quyết được và chỉ có thể giải quyết được, mỗi khi chúng ta
tiếp dẫn, nhiếp dẫn vấn đề ấy như trên. Chúng ta không thể nào nhiếp dẫn
vấn đề một cách mới lạ, khi chúng ta còn suy tư trong phạm trù của những
mẫu mực tư tưởng nào đó, thuộc phạm vi tôn giáo, chính trị, hay những phạm
vi khác. Vì thế, muốn được đơn sơ giản dị, chúng ta phải giải thoát ra
ngoài tất cả những phạm trù mẫu mực ấy. Do đó, điều quan trọng là mình phải
ý thức, phải có khả năng hiểu được tiến trình suy tư của chính mình, ý thức
bản thân một cách toàn diện, nhờ thế, sự đơn giản mới hiện đến, sự khiêm
tốn, từ tốn mới hiện đến, và lòng từ tốn này phát hiện tự nhiên, chứ không
phải là một nhân đức được tôi luyện hoặc do tập quán thực hành. Lòng khiêm
nhượng từ tốn, xuất phát từ sự thâu đạt sở đắc thì không còn đúng là khiêm
nhượng, từ tốn. Một người có ý muốn làm mình trở thành khiêm nhượng, khiêm
tốn thì không còn là một người khiêm tốn nữa. Chỉ khi nào mình khiêm tốn
một cách tự nhiên, chứ không phải khiêm tốn vì tôi luyện, chỉ lúc ấy mình
mới có thể đón gặp đối mặt nổi sự đời quá dồn dập, vì lúc ấy mình không còn
quan trọng nữa, mình không nhìn đời qua sự khuôn ép nội tâm và qua cảm thức
về sự quan trọng của mình, mình nhìn vấn đề trong tự bản thể của vấn đề ấy,
và nhờ vậy, mình mới có thể giải tan vấn đề ấy.
T.V. trích lược from https://sites.google.com/site/tudodautienvacuoicung/chuong-xi-dhon-gian
|