NHÂN DUYÊN
Người xưa có câu "Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối mặt bất tương phùng". Tạm dịch là : có duyên với nhau thì ngàn dặm mà như là bên cạnh, không có duyên thì dù đối mặt cũng chẳng "thấy" tương phùng.
Mọi người thường dùng chữ "nhân duyên" để nói về những cuộc gặp gỡ không có ý định trước, trong sự giao cảm của nhau, trong thiện tánh hay vẻ đẹp nội tâm...Ví dụ như lương duyên tiền định, nhân duyên gặp gỡ làm vợ chồng, con cái, bạn bè nhau, cơ duyên cùng sống chung trong một xứ sở, thiện duyên cùng tu chánh pháp...
Nhân Duyên là những gì không thể biết trước hay"chấp trước", hay nói cách khác, cái biết trước khi mọi chuyện xảy ra là cái biết thuộc về nhân duyên "biết mà không biết".
Vấn đề là gì? Vấn đề chính nó cũng là tư tưởng, là cái biết không còn ở trong nhân duyên. Nói cách khác, tư tưởng không phải là nhân duyên. Trong sự giải quyết một vấn đề, có một sự lựa chọn nhị nguyên cái này hoặc cái kia, ví dụ như chọn lựa một trong hai giữa thiện ác, tốt xấu, hơn thua, thành bại, được mất...Khi tư tưởng "lên ngôi" thì vấn đề xuất hiện, nhân duyên tan biến. Đó là nỗi khổ triền miên, vì tư tưởng không thể dùng tư tưởng để mà giải quyết những gì trái ngược hay xung đột nhau, vì tư tưởng bị hạn hẹp nơi lựa chọn phiến diện, đánh mất cội nguồn tổng thể nhân duyên. Dù có "giải quyết" được thì đó cũng chỉ tạm thời, xưa nay thiện ác đâu có rời nhau...
Đâu biết rằng nhân duyên chính là "cách giải quyết" vấn đề duy nhất, bởi nhân duyên vốn không tư tưởng, không vấn đề. Tìm cách giải quyết vấn đề triền miên và giả tạm chi bằng chấm dứt vấn đề hay nói cách khác, tốt nhất là không để có vấn đề. Cách giải quyết vấn đề "tối ưu" và "cội rễ" là không có vấn đề nảy sinh, và đó chính là con đường của nhân duyên. Nếu trụ tâm vào cái biết tư tưởng để giải quyết vấn đề thì đánh mất đi thực tại nhân duyên, câu trả lời chỉ là tạm thời hay vô vọng.
Công án nhà Thiền, do đó, là những câu hỏi không thể có câu trả lời, để dẫn ta trở về với thực tại chân thật và duy nhất.
Ví dụ như:
"Hãy lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay".
"Con chó có Phật tánh không?"
"Bộ mặt thật của ta trước khi cha mẹ chưa sanh là gì?"
...
Trong hiện thực, có những vấn đề không thể giải quyết được, "cho đến khi" thực tại xảy ra, hiện tại buộc ta phải chọn một phương án, mà lòng thì vẫn chưa quyết định bất kỳ lựa chọn nào, hay nói cách khác là tư tưởng chưa sinh khởi lựa chọn. Nhân duyên chính là Hiện tại, bởi sống theo Nhân duyên hay Hiện tại thì không có thời gian cho ta lựa chọn hay trả lời. Nhân duyên chính là hiện tại được "trì hoãn" trong vấn đề, trong tâm tư phiền não; cho đến khi nó hiểu được rằng, không có bất kỳ một phân biệt chọn lựa, không có một câu trả lời hay định kiến chấp trước nào trong thế gới thực và phi thời gian này.
Trong mâu thuẫn hay đối kháng, sự không không định trước một câu trả lời, hay không lựa chọn một phương án giải quyết vấn đề... sẽ làm cho đối phương "mất phương hướng" bởi tư tưởng không sinh khởi, vì tư tưởng chỉ tồn tại trong sự phân biệt, trả lời, phán xét hay lựa chọn... Bị cuốn hút trong hấp lực của nhân duyên, cái toàn bộ chân thật và trọn vẹn của hiện tại trong ta có thể hoá giải mọi xung đột, phân chia, vấn đề, phiền não, hay tạo thêm cảm hứng và sức mạnh cho tha nhân vượt qua bản thân hay nghịch cảnh, vốn chỉ do tư tưởng tạo ra.
Tư tưởng do vậy chỉ là thế giới tạm thời hư dối, tư tưởng sinh tạo ra vấn đề, khi mà yếu tố nhân duyên "không còn hiện hữu". "Trở về" với nhân duyên , với hiện tại không tư tưởng không thời gian, là cách chấp dứt tư tưởng chọn lựa phân biệt, là cách chấm dứt hay giải quyết vấn đề từ cội nguồn. Nhân duyên không phải là sự chọn lựa "trở về" vì hiểu như vậy là còn dùng tư tưởng,không phải là nhân duyên.
Khi không còn một sự phê phán cái này hay cái kia, không còn ý nghĩ muốn biết cái này hay cái khác, thì nhân duyên mới hiện hữu trong tâm. Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói "Lúc mê người đuổi theo pháp [vạn vật], lúc ngộ pháp đuổi theo người" .Dân gian cũng nói "Tìm tình tình chạy, chạy tình tình theo". Khi không dùng cái biết tư tưởng biết thì cái biết nhân duyên mới lại "đuổi" theo ta, bởi sự quân bình cái biết của tư tưởng với cái "Không Biết" hồn nhiên của hiện tại nhân duyên. Bởi ta thường kỳ vọng, tham vọng, ảo vọng, hoặc hy vọng vào cái biết tư tưởng, nên không có sự vô tâm để "trì hoãn" hay chấm dứt mọi lựa chọn "cho đến khi" hiện tại "hiện ra", hay nói cách khác là "sống trong hiện tại", là giao cảm với nhân duyên.
Nhân duyên có vẻ đẹp của sự vô tâm, hồn nhiên, không tư tưởng, của cái trọn vẹn không phân biệt. Nhân duyên là chân thật và duy nhất nên không có bất kỳ một vấn đề hay lựa chọn "nào khác" nên đó là cách "giải quyết vấn đề" triệt để, chân thật và duy nhất.
Về nhân duyên kinh Phật nói “Như Lai chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở thế gian” (Kinh. Pháp Hoa).
Ở mức độ "trừu tượng", trong thế giới của “ý niệm thuần túy”, nhân duyên theo nghĩa "sâu thẳm" lại chính là tư tưởng mà không có đối tượng (nên cũng không có chủ thể). Nếu nhân duyên theo nghĩa đơn giản là sự "liên hệ mà không liên hệ" của vạn vật trong cảnh sắc hình tướng thì theo nghĩa "thâm sâu", nhân duyên trở thành sự "liên hệ mà không liên hệ" của chủ thể và đối tượng của tư tưởng.
Niệm danh hiệu một vị Phật là ý niệm về một đối tượng "không có" trong thế gian, không có bất kỳ một đối tượng nào như thế trong thế giới cảnh sắc thế gian, nên cái niệm ấy gọi là không có đối tượng, xa lìa mọi đối tượng trong thế gian. Niệm Phật không là niệm thế gian, không là niệm tư tưởng, mà là niệm tâm, gọi là niệm mà vô niệm, biết mà không biết, không biết mà biết, là cái niệm của nhân duyên hay chân tâm phật tánh vậy.
Khi gặp nghịch cảnh hay vấn đề, niệm phật là niệm tâm, ngay tức thì xa lìa thế gian phiền não, buông bỏ đối tượng của tư tưởng, chấm dứt tư tưởng, là tâm tỉnh lặng vô niệm, nên có thể tai qua nạn khỏi vì giao cảm được với trí huệ của nhân duyên, vì chấm dứt vấn đề trong tư tưởng. Không còn bất kỳ cảnh sắc hay tư tưởng "nào khác" có thể tồn tại trong chân tâm hay nhân duyên vô niệm, đó chính là sự nhất tâm bất loạn hay là sự tập trung tư tưởng "nơi" cội nguồn sâu thẳm là "chẳng phải Nhân duyên, chẳng phải Tự nhiên".
Niệm Phật là niệm Chân tâm Phật tánh, nên không có sinh diệt, không đối đãi phân biệt chủ thể và đối tượng, nên cảnh sắc và mọi tham sân si thế gian tan biến hay chỉ còn là huyễn mộng. "Tâm bình thế giới bình" là định lực và trí huệ của niệm Phật nhất tâm hay tập trung tư tưởng thiền định, là phật pháp vi diệu không thể nghĩ bàn.
Nhất tâm niệm phật hay tập trung tư tưởng thì là niệm mà vô niệm, vì chỉ "tư tưởng" về thế gian pháp khi nhân duyên hay hiện tại buộc phải tiếp duyên đối cảnh mà không có bất kỳ lựa chọn hay khởi niệm thành chủ thể và khách thể.
Nhân duyên là không lựa chọn, cả giữa phật pháp và thế gian pháp, Phật Pháp không lìa Thế gian pháp, thì Niết bàn và Bồ Tát là thường hằng trong Tâm. Tình thương chan chứa trong cội nguồn tâm khi sống trong nhân duyên không còn tư lương, Tình thương là trí huệ hoá giải mọi vấn đề và phiền não...
Truyền thuyết về nhân duyên có câu chuyện về Bồ Đề Đạt Ma, Tổ sư Thiền Đông Độ và là đại sư sáng lập võ phái Thiếu Lâm. “Chuyện kể rằng, thời điểm Đạt Ma đến Trung Quốc truyền pháp, có một vị quốc sư nhà Bắc Ngụy là Bồ Đề Lưu Chi rất ghen ghét vì danh tiếng của Đạt Ma nên tìm mọi cách hãm hại. Lưu Chi sai người bỏ chất độc vào cơm của Đạt Ma, định hại chết ông. Đạt Ma biết trong cơm có độc nhưng vẫn ăn. Tuy nhiên, sau khi ăn, từ miệng Đạt Ma nôn ra một con rắn, nhờ thế mọi chất độc đều tiêu tan hết, Đạt Ma bình an vô sự. Lưu Chi nhiều lần tìm cách hạ độc Đạt Ma, Đạt Ma vẫn biết, nhưng lần nào cũng không hề hấn gì. Lưu Chi có ý sợ, nhưng càng nuôi dã tâm hại Đạt Ma bằng được.
Khi chọn được Huệ Khả làm người kế thừa tâm ấn, nghĩ rằng, công việc của mình tại Đông Thổ đã toại nguyện nên Đạt Ma quyết định không tự cứu mình nữa. Đó là lần thứ 7, Lưu Chi sai người bỏ độc vào cơm của Đạt Ma. Đạt Ma vẫn ăn cơm như bình thường, nhưng lần này không có con rắn nào được nôn ra, Đạt Ma cứ ngồi như vậy an nhiên tịch diệt.”
Nhân duyên là sự chấp nhận không điều kiện, cái gì đến thì đến, không chút chối từ, lòng đầy tình thương hay hoan hỉ với nụ cười giải thoát trong tâm. Chỉ có phong thái và bản lĩnh của cuộc sống theo nhân duyên mới có thể giải thoát được thói quen tư tưởng, để tha nhân "tỉnh thức" "trở về" hay ""sống lại" những gì là hồn nhiên và thiện tánh đã bị cảnh sắc và tư tưởng bao phủ mịt mờ dày đặt trong bức màn nghiệp chướng vô minh tăm tối.
Cuối cùng, trước bất kỳ sợ hãi hay sống chết mà tâm không dao động, "có chẳng khác không, không chẳng khác có", thì đó là sự thăng hoa của nhân duyên thành giải thoát vô ngã. Phật nói "Phiền não là giải thoát " chỉ là bởi vì ta có nhân duyên với phiền não mà thôi - lại là một kiểu nhân duyên khó thấy nhất - phiền não giữ ta lại trong bí ẩn của nó cho đến khi ta khám phá ra được phiền não, sống chết, sợ hãi cũng chỉ là tư tưởng hư huyễn không có bản ngã, cũng vốn là Không. Công án chỉ kết thúc trong tánh Không. Từ Nhân duyên đến Vô niệm đến Vô ngã là một con đường đạo mà ý thức, ngoại cảnh, và thân xác có thể đi đến tách rời độc lập, không liên hệ dính mắc, để chỉ giao cảm "nhân duyên" "với nhau" trong tánh Không hay nguyên thể Phật Tánh - không nhị nguyên đối tượng và chủ thể của tồn tại !
Thiện Võ.
Tin tức cùng thời gian
| Sự Hoàn Thiện Của Tinh Tấn | Feb 20, 2012 |
| HY VỌNG | Feb 20, 2012 |
| Tại sao chúng ta chọn bất hạnh | Feb 13, 2012 |
| NHẪN NHỤC | Feb 13, 2012 |
| HÀNH ĐỘNG VÀ Ý TƯỞNG | Feb 01, 2012 |
| TRỰC THỨC | Jan 18, 2012 |
| Từ Dục tới Siêu tâm thức | Jan 06, 2012 |
| Từ Dục tới Siêu tâm thức | Jan 06, 2012 |
| BẢN NGÃ LÀ GÌ ? | Dec 20, 2011 |
| SỢ HÃI | Dec 11, 2011 |





