TÌM HIỂU THIỀN hay là TẢN MẠN VỀ “LÝ THUYẾT VÀ HIỆN THỰC”
“..Nụ hoa chưa thắm vội tàn, chưa vui đã sầu chia phôi…”( lời của một bài tình ca Việt nam).
Cuộc đời không là như ý. “Hiện thực” không như là “lý thuyết”.
Các vị Thiền sư hoặc là không nói, hoặc là nói xong là buông. Thiền không có vết tích hay trụ tâm qua ngôn ngữ mà diễn đạt trực tiếp hiện thực. Cây gậy là cây gậy, giữ giới luật là giữ giới luật. Nếu còn lý giải hay tư tưởng về giữ giới thì không còn là giữ giới dù suốt cuộc đời trụ tâm trong đạo hạnh và giới luật. “Đạo mà còn có Đạo thì không phải Đạo, danh khả danh phi thường danh” (Khổng Tử). Thậm chí Chỉ và Quán pháp còn có chỗ trú ẩn thì còn chưa phải là Thiền. Đạt Ma sư tổ nói pháp: “trực chỉ nhân tâm, bất lập văn tự, kiến tánh thành Phật”.
Hiện thực là màn kịch đang diễn ra mà tư tưởng hay lý thuyết chỉ là khâu học tập, kinh nghiệm, tập luyện, chuẩn bị v.v. Khán giả thì không cần biết gì ngoài cái hiện thực đang diễn ra. Lý thuyết và tư tưởng chỉ có ý nghĩa được qua hiện thực của vở tuồng. Nếu mình biết mình đang là một diễn viên trong vở kịch của cuộc sống thì tất cả những lo toan, sợ hãi, khổ vui, triết lý … trong cuộc đời cũng chỉ là những gì chuẩn bị hay là bên lề của một vở tuồng đang diễn ra, cũng là những gì không theo kịp với hiện thực “đang là”…
Thiền là thấy biết trực tiếp hiện thực, không còn chủ thể khách thể tư tưởng; cũng là hiện thực và tư tưởng biệt lập nhau, Biết và Không biết không còn ngăn ngại, hành động và ý thức không còn liên hệ nhau, cảm thọ và tâm tưởng không còn dính mắc nhau. Kinh Bát Nhã nói: “Sắc, Thọ , Tưởng, Hành, Thức cũng là Không” là lẽ đó. Kinh Lăng Nghiêm thì nói: giác căn( sắc, thọ),cảnh trần( tưởng, hành) và ý thức(thức và không ) hoàn nguyên, biệt lập không dính mắc nhau thì đó là Đạo, là bản thể Phật Tánh. Thiền là cửa không cửa vào Đạo cội nguồn sinh diệt và bất sinh diệt. Bản thể Phật tánh mà Thiền khai phóng là sự vĩnh hằng của tinh hoa cuộc sống trong mỗi chúng sanh.
Phật nói rằng, khi chưa gặp Thiền Sư thì lấy Giới làm Thầy. Giới là tâm luật, bất luận văn tự, mà người tu nguyện một đời gìn giữ mà không hề và không thể lý giải tại sao dù có khó khăn hay tuyệt vọng lúc hành trì. Ví dụ của giới như là không sát sanh, không uống rượu, không dâm dục, không nói dối…Người tu hành nhiều thì còn nhiều giới luật nữa. Khi mà giới trở thành một phản xạ vô điều kiện, vượt qua mọi cửa ải của tư tưởng, ngụy biện hay ma tâm; thì hành giả giác ngộ chân thật, hành giả chính là hiện thực. Giới luật nghiêm trì tự giác nên cũng như không có giới, bởi pháp là vô pháp, hiện thực là không tư tưởng, có trở thành không thì có cũng là không…Người có giới luật thì có sức an định vô biên mà các bậc thiên, nhân, la hán ...cũng không thể biết được.
Tổ sư Thiền được khai phóng bởi Đạt Ma sư tổ “tâm truyền tâm, chiếu kiến nhân tâm, bất lập văn tự ...”. Huệ Năng Lục Tổ hỏi một ông tăng cầu đạo “ trước khi cha mẹ chưa sanh, bản lai diện mục của ông là gì?”. Tham thiền hay tu thiền công án là phép tu tối thượng thừa, dùng thức phá vô thức, dùng cái biết phá cái không biết. Vô minh vô thức như trùng quan bao phủ mà cái biết chỉ có thể phá được, chỉ có thể biệt lập không còn liên hệ, khi đi qua bao lao quan huyễn tưởng mà không một ý niệm nào có thể hình dung được. Tham thiền cũng là giữ giới vì khi tham thiền thì không tìm hiểu gì thêm khác, chỉ là công phu nghiêm trì trọn đời cho ra công án, xuyên qua hết vô minh vô thức đến khi vô minh và vô thức tan rã, biệt lập, không còn dính mắc cái không này.
Phép tu quán âm cũng là một phép tu tối thượng mà Phật có nói trong kinh Lăng Nghiêm. Giác căn biệt lập với Trần cảnh và Ý thức là con đường nhập Không vào Phật Tánh. Thế giới trần cảnh và tư tưởng chỉ còn lại âm thanh. Hành giả trở nên không còn xa lạ với âm thanh, cảm giác. Những hư ảo tư tưởng về xác thân, thân giác giờ đây đã được trả lại cho cảm giác. Cảm giác và người cảm giác được biệt lập với trần cảnh thì vẫn còn cái biết về biệt lập tự do ấy nên phải Không luôn cả cái biết này. Khi đối tượng biết và chủ thể biết đã nhập không thì vẫn còn cái Không nên còn phải buông luôn cái Không. Khách thể và chủ thể của cái Không này không còn thì tịch diệt hiện tiền, thực tại thế gian pháp cũng là Phật pháp.
Tham thiền không chỉ cũng là giữ giới mà còn là quán âm bởi cảm giác, trần cảnh và ý thức phải tách biệt và tương đồng nhau trong Không Tánh. Người tham thiền thì giác căn cũng sáng tỏ khỏi mê mù, nên mắt như mù, tai như điếc trong cảnh ý. Có một câu công án là: “ Hãy cho nghe tiếng vỗ của một bàn tay”. Tất cả bốn vạn năn ngàn pháp môn trong Phật pháp cũng câu thông và làm một nhau như vậy. Giới luật là giới luật, cây gậy là cây gậy, thiền là thiền không liên quan gì với cảm giác, ngoại cảnh hay ngôn từ, giải thích và lý thuyết.
Cũng vậy, niệm danh hiệu Phật thường xảy ra khi tư tưởng ngưng bặt, hoặc cùng đường tuyệt vọng, hoặc tuyệt lý tuyệt tình…Danh hiệu Phật là ngôn từ mà không phải ngôn từ vì không diễn tả một chút gì liên quan hay có ngữ nghĩa với hoàn cảnh hay nghịch cảnh. Nhất niệm này cũng chính là vô niệm khi hiện thực đang là xuất hiện làm cho người tu có thể tham thiền mà không còn niệm ý hay khởi niệm công án. Thức và trần và Không không còn dính mắc nhau, làm cho đi đứng nằm ngồi hay làm việc mà vẫn biệt lập với tham thiền công án.
Quá khứ, hiện tại và tương lai tách rời không thể níu kéo nhau chính là một chân lý bất diệt mà khi trở thành làm một với chân lý, người ta có thể tự do giải thoát vĩnh hằng và không còn có thời gian.
Một võ sư có thể cảm thụ được những gì “đang là”, ví dụ như nhờ pháp quán hơi thở từ không khí của trần cảnh, mà biệt lập và có thể ức chế hay hưng phấn ý thức; và thư giản, tìm ra, thu nhiếp hay tách biệt chính thân thể(căn giác).
Lập pháp, Hành pháp và Tư Pháp cũng phải biệt lập trong đơn thể mới có thể tương tác, quân bình hay hòa nhập thật sự nhau trong một xã hội.
Tình Yêu là tiếng nói chân thật của riêng “Trái Tim”, của Chân Tâm khi mà tư tưởng vắng bặt chỉ còn lại hiện thực không lời, chí nguyện suốt đời suốt kiếp chung thủy “một pháp môn” này…
Người nghệ sỉ có thể biểu diễn hoặc sáng tạo được bởi nhờ căn trần thức của họ biệt lập không ảnh hưởng ràng buộc nhau. Nghệ thuật là thể hiện ra hiện thực của sự biệt lập nên đồng bộ của căn trần thức.
Những gì “đang là“ ví dụ như khi ý thức ta làm việc thì vô thức cũng đồng hành với những nhiệm vụ của nó mà ta không cần và không thể phải biết hết được, ví dụ như các hệ cơ quan trong cơ thể đang hoạt động độc lập và sẵn có trước khi mà tư tưởng và cái biết của ta hoạt động( biết về nó ).
Khi đối thủ, đối tượng hay vấn đề không còn cũng là lúc mà chúng được loại khỏi “vòng chiến” bởi công phu tham cứu, giữ giới, quán âm, quán hơi thở, hay niệm Phật …làm chúng hoàn nguyên trong biệt lập trong Phật Tánh không còn liên hệ nhị nguyên đối đãi.
Xác thân cũng chỉ là tứ đại do duyên hợp, do sự tổ hợp của những gì vốn biệt lập. Chỉ là đất nước gió lữa là cái nhìn giác ngộ của Phật tánh.
Khoa học cũng đã khám phá các Hố Đen Vũ trụ( Black Hole), là những thế giới mà không bức xạ ánh sáng ra bên ngoài. Tất cả mọi năng lượng và vật thể bị hút vào bên trong, không còn tương tác hay liên hệ gì với chung quanh, nên tư tưởng con người đành bất lực, không thể khám phá gì thêm ngoài sự không biết…
Và sự không biết, bước đầu của khám phá khoa học hay tham thiền, cũng chỉ là cái biết trong sự đối đãi, nên vẫn chưa biệt lập nhau, và vẫn còn trong khách thể và chủ thể của cái Biết. Nếu cái Biết không còn, dù có xa lánh thế gian, cũng còn chủ thể về cái Không và đối tượng Không(!) Khi mà cái không biết và cái Không như một cái mặt nạ rơi xuống, thì bộ mặt thật của ta trước khi cha mẹ chưa sanh có thể hiện tiền. Hiện thực “không có vô minh, già chết, khổ tập diệt đạo, trí huệ, cũng không có chứng đắc”.
Tìm hiểu Thiền là sự mong cầu một kết quả hay tìm kiếm một khái niệm nên do vậy không thể là Thiền. Chính vì mãi trông chờ cho mình một kết quả chứng nghiệm mà tư tưởng không bao giờ dừng nghỉ. “Phật pháp vốn vô pháp. Vô pháp, pháp diệt pháp”, không thể có bất kỳ kết luận hay khái niệm nào được tìm kiếm hay sanh ra. Bệnh thế gian là căn trần thức dính mắc nhau bởi mong cầu nhân quả và trụ tâm trong pháp hay trong trong lý thuyết nên không thể hiểu được cái không có ý niệm. Hiện thực vốn nguyên vẹn như nó vẫn là: người giác ngộ rồi thì thì sắc không đổi, giác quan và hoàn cảnh không đổi, ý thức không đổi, vì chúng vốn biệt lập và chỉ là Tánh Không. Chỉ có thay đổi Tâm: Pháp không còn, lý thuyết khái niệm không còn, nên hiện thực vốn nguyên vẹn như nó vẫn là khi mà có sự chấm dứt sự phân tâm trong mong cầu, tìm kiếm hay, dính mắc.
Nhà khoa học khi nghiên cứu những nguyên lý hiện tượng trong vũ trụ hay thế giới vi mô cũng đã nói rằng, chính ông ta cũng đang là tham gia vào đối tượng mà mình đang quan sát. Trong môi trường biệt lập với mọi tương tác môi trường xung quanh, vượt qua thế giới không biết, nhà khoa học khám phá thế giới khách quan cũng là khám phá ra chính ông ta đang là trong Hiện Thực, không còn trụ tâm chủ thể và khách thể của cái biết, không còn là vật thí nghiệm cho học thuyết hay tư tưởng.
Có một Thiền sư nọ khi vừa đăng đàn thuyết pháp liền cuốn chiếu rời khỏi Thiền Đàn không nói một lời. Ông ta đã thuyết pháp xong.
Thiện Võ sưu khảo.
Tin tức cùng thời gian
| HÀNH ĐỘNG VÀ Ý TƯỞNG | Feb 01, 2012 |
| Từ Nhân Duyên tan hợp và Tình Yêu đến Thiền | Jan 30, 2012 |
| ĐƠN GIẢN | Jan 26, 2012 |
| NHÂN DUYÊN | Jan 18, 2012 |
| TRỰC THỨC | Jan 18, 2012 |
| Thằng ăn cắp | Jul 31, 2010 |
| TƯ TƯỞNG và HUYỄN MỘNG | Jul 30, 2010 |
| Gương Bố Thí | Jul 28, 2010 |
| Tình Thương và Thù Hận | Jul 21, 2010 |
| Tỉnh Giấc Mơ Hoa | Jul 14, 2010 |





